So sánh sản phẩm

Thị trường giấy năm 2018 và dự báo năm 2019

Thị trường giấy năm 2018 và dự báo năm 2019

Kinh tế thế giới năm 2018 nhìn chung có sự tăng trưởng nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định. Căng thẳng và xung đột thương mại giữa các nền kinh tế lớn diễn ra gay gắt; chủ nghĩa bảo hộ ngày càng có xu hướng hình thành rõ nét. Các chính sách quản lý sản xuất, xuất nhập khẩu của Trung Quốc ảnh hưởng đến thị trường Việt Nam rất lớn. Giá nguyên liệu bột giấy thế giới liên tục tăng từ cuối năm 2017 đến hết quý 3/2018 và bắt đầu giảm từ quý 4/2018. Trong bối cảnh đó, ngành giấy cũng không tránh khỏi những tác động qua lại.

 Thị trường giấy Việt Nam năm 2018

Ngành giấy Việt Nam năm 2018, trên phương diện cả bốn yếu tố đều có sự tăng trưởng mạnh so với năm 2017, thiết lập mức tăng trưởng cao nhất trong lịch sử ngành giấy Việt Nam. Tiêu dùng các loại giấy đạt sản lượng 4,946 triệu tấn, tăng trưởng 16,0%; sản xuất đạt sản lượng 3,674 triệu tấn, tăng trưởng 31,0%; xuất khẩu đạt 809.250 tấn, tăng trưởng 63,0%; nhập khẩu đạt 2,081 triệu tấn, tăng trưởng 6,0%.

Thị trường giấy Việt Nam năm 2018 (1.000 tấn)
Thị trường giấy Việt Nam năm 2018 (1.000 tấn)

Về trị giá: Xuất khẩu giấy và thành phẩm từ giấy đạt kim ngạch 1,088 tỷ USD, tăng trưởng 50,0% so với năm 2017. Nhập khẩu giấy các loại và thành phẩm giấy đạt kim ngạch 2,674 tỷ USD, tăng trưởng 13,8% so với năm 2017.

Trị giá xuất khẩu – nhập khẩu giấy và thành phẩm giấy thị trường Việt Nam năm 2018 (1.000 USD)

Thị trường giấy bao bì

Tổng lượng tiêu thụ giấy làm bao bì Việt Nam năm 2018 đạt sản lượng 3,818 triệu tấn, chiếm tỷ trọng 77,2% trên tổng lượng tiêu dùng các loại giấy, tăng trưởng 20,0% so với cùng kỳ, mức tăng trưởng về lượng cao nhất trong lịch sử ngành giấy Việt Nam. Trong đó, tiêu thụ giấy bao bì không tráng phấn đạt 3,17 triệu tấn, chiếm tỷ trọng 83,0%; giấy bìa tráng phấn đạt 648.400 tấn (không thống kê bao bì có tráng sử dụng cho chất lỏng như sữa, rượu, nước trái cây,…), chiếm tỷ trọng 17,0%.

Sản xuất giấy làm bao bì năm 2018 đạt sản lượng 3,046 triệu tấn, chiếm 81,3% tỷ trọng sản xuất các loại giấy, tăng trưởng 37,0% so với cùng kỳ, thiết lập mức tăng trưởng cao nhất về lượng sản xuất trong lịch sử ngành giấy Việt Nam, mức tăng sản xuất này chủ yếu đến từ các doanh nghiệp FDI như Lee & Man, VinaKraft, Chánh Dương và một phần từ doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, sản xuất giấy làm bao bì ở Việt Nam chủ yếu là giấy các tông lớp sóng và lớp mặt, lớp mặt trắng (white-top liner) từ giấy tái chế, giấy làm bao bì xi-măng cấp thấp, sản xuất giấy bìa tráng phủ (coated duplex) khoảng 40.000 tấn/năm (6,0%) còn lại nhập khẩu 84,0%. Dự kiến năm 2019, sản xuất giấy lớp mặt và lớp sóng sẽ tăng khoảng 900.000 tấn, chủ yếu đến từ khu vực phía Nam chiếm khoảng 75% còn lại 25% ở khu vực phía Bắc.

Thị trường giấy làm bao bì Việt Nam năm 2018 (1.000 tấn)
Thị trường giấy làm bao bì Việt Nam năm 2018 (1.000 tấn)

Xuất khẩu – nhập khẩu, ngành giấy Việt Nam năm 2018 đạt dấu mốc xuất khẩu giấy bao bì tăng ở mức kỷ lục trong lịch sử ngành, giấy bao bì là mặt hàng xuất khẩu tăng mạnh nhất đạt 641.000 tấn, chiếm tỷ trọng 79,2% trên tổng lượng các loại giấy và tăng trưởng 99% so với cùng kỳ. Nhập khẩu giấy bao bì đạt 1,413 triệu tấn, chiếm tỷ trọng 68,0% trên tổng lượng các loại giấy và tăng trưởng 10% so với cùng kỳ 2017. Dự kiến năm 2019, xuất khẩu giấy bao bì đạt khoảng 1,1 – 1,3 triệu tấn đó là trong trường hợp thị trường thuận loại, còn khi thị trường xuất khẩu không thuận lợi thì nguồn cung giấy bao bì thị trường nội địa sẽ vượt nhu cầu.

Thị trường giấy in, giấy viết

Tổng lượng tiêu thụ giấy in và giấy viết năm 2018 đạt 795.000 tấn, tăng trưởng 3,0% so với cùng kỳ. Trong đó giấy in, viết không tráng phấn (UWF) đạt 542.220 tấn chiếm tỷ trọng 68,2%, tăng khoảng 8,0%; giấy in, viết tráng phấn (CWF) đạt 253.726 tấn chiếm tỷ trọng 31,8%, giảm 7,4% so với cùng kỳ. Dự kiến năm 2019 tiêu thụ trong nước vẫn tăng trưởng, nhưng chủ yếu là sản xuất gia công xuất khẩu vở và sổ.

Sản xuất trong nước giấy in, viết không tráng phấn (UWF) đạt sản lượng khoảng 320.000 tấn, tăng khoảng 8,0% so với cùng kỳ. Năng lực sản xuất chủ yếu đến từ Tổng Công ty Giấy Việt Nam đạt lượng khoảng 110.000 tấn (34,4%), Công ty An Hòa đạt khoảng 112.000 tấn (34,5%), Việt Thắng (Hải Dương + Thường Tín) đạt khoảng 42.000 tấn (13,1%), Công ty giấy Xương Giang đạt khoảng 17.000 tấn (5,3%), còn lại các đơn vị nhỏ khác. Dự kiến năm 2019, sản xuất nội địa đã tới hạn không còn khả năng gia tăng sản lượng, chủ yếu là nguồn cung từ nhập khẩu.

Nhập khẩu giấy in và giấy viết năm 2018 đạt 514.000 tấn, giảm 6,0%. Trong đó giấy không tráng phấn (UWF) đạt 229.558 tấn, giấy lớp tráng phủ (CWF) đạt 253.726 tấn và giảm 7,4% so với cùng kỳ. Xuất khẩu đạt 8.000 tấn và giảm 78,0% so với cùng kỳ, nguyên nhân giảm do các doanh nghiệp trong nước tập trung khai thác thị trường nội địa.

Thị trường giấy tissue

Tổng lượng tiêu dùng giấy tissue chủ yếu là các sản phẩm dùng làm khăn ăn, khăn mặt, giấy vệ sinh năm 2018 đạt khoảng 164.453 tấn, tăng trưởng 8,0% so với cùng kỳ 2017. Đối với loại giấy tissue kraft chủ yếu dùng để đóng gói sản phẩm hay làm giấy nền cho bao bì mềm khác chưa thống kê số liệu, tuy nhiên chủng loại này ở thị trường Việt Nam đang có xu hướng tiêu dùng tăng trưởng rất mạnh.

Sản xuất trong nước đạt sản lượng 198.000 tấn, tăng trưởng 6,0% so cùng kỳ năm 2017. Trong những năm vừa qua sản xuất giấy chất lượng cao ngày càng được chú trọng với sự đầu tư công nghệ mới hiện đại như công ty Xương Giang, Linh An ngoài khu vực Miền Bắc. Sản xuất sản phẩm chất lượng thấp đã giảm rất nhiều do áp lực cạnh tranh, xu hướng tiêu dùng sản phẩm chất lượng cao, giá nguyên liệu bột giấy ở mức cao.

Nhập khẩu tổng lượng năm 2018 đạt 21.613 tấn, tăng trưởng 44,0% so với cùng kỳ 2017, nguồn cung nhập khẩu được gia tăng mạnh từ Indonexia, chiếm tỷ trọng 46% và Trung Quốc, chiếm tỷ trọng 18% do năng lực sản xuất mới của họ đưa vào sản xuất năm 2018 khoảng 1,8 triệu tấn. Đối với thuế suất nhập khẩu từ các quốc gia Đông Nam Á hiện tại là 0%, Trung Quốc là 20%, Nhật Bản 4,0%, các nước khu vực châu Âu là 20%.

Xuất khẩu, tổng lượng đạt 55.160 tấn, tăng trưởng 20% so với cùng kỳ, thị trường xuất khẩu chủ yếu vẫn là khu vực châu Á như Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Hồng Kông, Mỹ, còn đối với thị trường Trung Quốc xuất khẩu không đáng kể.

Bột giấy

Tổng sản lượng bột giấy nhập khẩu về thị trường Việt Nam bao gồm bột BHKP, BSKP, BCTMP, UKP, FLUFF năm 2018 đạt 339.387 tấn, tăng trưởng 8,0% so với cùng kỳ năm 2017, mức trung bình đạt 28.282 tấn/tháng:

+ Nguồn cung: Bột giấy nhập khẩu cho thị trường Việt Nam năm 2018 rất đa dạng đến từ 16 quốc gia. Trong đó các quốc gia ở khu vực Bắc Mỹ có lượng cung nhiều nhất đạt 137.451 tấn, chiếm tỷ trọng 40,5%; khu vực Mỹ La tinh cung 112.000 tấn, chiếm tỷ trọng 33,0%; khu vực Châu Âu cung 45.138 tấn, chiếm tỷ trọng 13,3%; khu vực Châu Á cung 45.477 tấn, chiếm tỷ trọng 13,4%; khu vực Châu Úc và Châu Phi có 02 quốc gia là Nam Phi và Newzeland cung 1.696 tấn, chiếm tỷ trọng 0,5%.

+ Về trị giá: tổng kim ngạch nhập khẩu bột giấy các loại đạt 263,368 triệu USD, tăng trưởng 20,7% so với cùng kỳ 2017. Mức giá bình quân năm 2018 là 780 USD/tấn, tăng 12,4% so với mức giá bình quân năm 2017 là 694 USD/tấn.

Sản lượng bột giấy nhập khẩu về Việt Nam năm 2018 (Đvt: tấn)

Nhu cầu bột giấy thị trường Việt Nam trong vòng 03 năm qua có mức tăng trưởng trung bình khoảng 10,0%/năm, tăng trưởng này chủ yếu do sự tăng trưởng về sản xuất giấy in, giấy viết, giấy tissue. Năng lực sản xuất bột giấy trong nước khoảng 210.000 tấn/năm bột giấy sợi ngắn (BHKP) và cũng chỉ đáp ứng được khoảng 56% nhu cầu về bột sợi ngắn, bột sợi dài BSKP và BCTMP phải nhập khẩu 100%. Dự kiến đến năm 2021 – 2023 năng lực sản xuất bột sợi ngắn BHKP sẽ tăng thêm 750.000 tấn/năm, bột hóa nhiệt cơ BCTPM tăng 70.000 tấn/năm, trong giai đoạn này bột sợi ngắn sẽ đáp ứng nhu cầu trong nước và tham gia sâu hơn vào thị trường xuất khẩu. Dự kiến 2019, nhu cầu về bột giấy chủ yếu phụ thuộc vào tăng trưởng về sản xuất giấy tissue, đối với giấy in và viết sản xuất trong nước đã đạt mức tới hạn.

Giấy thu hồi

Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan Việt Nam, tổng lượng giấy thu hồi (phế liệu giấy) nhập khẩu và chính thức được thông quan về đến doanh nghiệp được đưa vào sản xuất năm 2018 là 2,068 triệu tấn, tăng 812.000 tấn tương ứng 64,6% so với năm 2017. Lượng giấy thu hồi nhập khẩu về tồn đọng tại các cảng cao điểm từ tháng 9/2018 đến tháng 12/2018, do vướng mắc thủ tục và thời gian thông quan đã ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp.

Lượng nhập khẩu giấy phế liệu về Việt Nam năm 2018 (Đvt: tấn)

Năm 2018, các tông hòm hộp cũ (OCC) nhập khẩu đạt 1,340 triệu tấn, chiếm tỷ trọng 65,0%. Giấy thu hồi hỗn hợp (Mixed paper) nhập khẩu đạt 641.080 tấn, chiếm tỷ trọng 31,0%. Giấy văn phòng lựa chọn (SOP), giấy tạp chí cũ (OMG), giấy báo cũ (ONP), tissue nhập khẩu đạt 86.856 tấn, chiếm tỷ trọng 4,0%.

Nguồn cung giấy phế liệu cho thị trường Việt Nam năm 2018 chủ yếu đến từ thị trường Mỹ đạt 971.960 tấn, chiếm tỷ trọng 47,0%; Nhật Bản đạt 599.721 tấn, chiếm tỷ trọng 29,0%; khu vực Châu Âu đạt 351.562 tấn, chiếm tỷ lệ 17,0%; các quốc gia khác 144.760 tấn, chiếm tỷ trọng 7,0%.

Tỷ trọng giấy thu hồi nhập khẩu theo chủng loại năm 2018

Trong giai đoạn năm 2017 – 2018, nhu cầu về giấy thu hồi làm nguyên liệu sản xuất tăng trưởng rất mạnh, thu gom nội địa không theo kịp tăng trưởng về nhu cầu, do đó phải nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước. Lượng giấy thu hồi nhập khẩu trong hai năm qua đạt 1,236 triệu tấn, trung bình tăng trưởng 74,2%/năm. Tỷ lệ thu gom nội địa năm 2018 mới chỉ đạt 45% (1,682 triệu tấn), nhập khẩu 55,0% (2,068 triệu tấn). Dự kiến năm 2019, sản xuất giấy làm bao bì gia tăng khoảng 900.000 tấn, nhu cầu về giấy thu hồi làm nguyên liệu sản xuất tăng khoảng 1,1 – 1,2 triệu tấn và chủ yếu vẫn phụ thuộc và nguồn nhập khẩu.

Dự báo thị trường giấy năm 2019

Thế giới

Thị trường giấy lớp mặt (testliner) và giấy lớp sóng (medium)

Tăng trưởng tiêu thụ giấy lớp mặt và lớp sóng theo khu vực:                     

Khu vực % tăng trưởng tiêu thụ
Châu Á 4,3%
Trung Quốc 0,5%
Bắc Mỹ 2,5%
Mỹ Latin 3,2%
Tây Âu 2,2%
Đông Âu 4,8%
Châu Úc 2,3%
Châu Phi 4,8%
Tổng thế giới 3,1%

Nguồn: RISI, Global Conference Containerboard, November 2018

Dự báo tiêu thụ toàn cầu tăng trưởng 3,1%, năng lực sản xuất tăng 5,2%, chủ yếu ở thị trường Bắc Mỹ, Tây Âu, Đông Âu, Châu Á. Như vậy, cung đang vượt cầu khoảng  2,1% trong năm 2019.

** Thị trường Châu Á: bao gồm toàn bộ các quốc gia Châu Á, trừ Trung Quốc

Tăng trưởng năng lực sản xuất và tiêu thụ năm 2018 – 2019E  thị trường châu Á (Đvt: triệu tấn)

** Thị Trường Trung Quốc 2017 – 2019(E):

Tăng trưởng năng lực – sản xuất – tiêu thụ giấy lớp mặt và sóng trên thị trường Trung Quốc 2019(E):

  Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019(E)
Năng lực sản xuất 3.1% 14.6% 6.1%
Sản xuất 2.5% 3.0% 2.0%
Huy động hiệu suất 87.9% 79.4% 76.5%
Nhu cầu tiêu thụ 4.0% 2.9% 0.5%
 
Tăng trưởng xuất khẩu & nhập khẩu thị trường Trung Quốc năm 2019E (Đvt: 1.000 tấn)

 Thị trường Trung Quốc

Năng lực sản xuất tăng: Năm 2017, đầu tư mới 19 nhà máy với năng lực 4,3 triệu tấn/năm, tăng 8,9%, năng lực sản xuất loại bỏ 3,4 triệu, giảm 6,6%;

Năm 2018, đầu tư mới 26 nhà máy với năng lực 8,6 triệu tấn/năm, tăng 17,4%. Năng lực sản xuất loại bỏ 3,14 triệu tấn, giảm 5,8%;

Năm 2019, đầu tư mới 16 nhà máy với năng lực 6,9 triệu tấn, tăng 8,5%. Năng lực sản xuất dự kiến loại bỏ 2,36 triệu tấn, giảm 4,3%:

Tiêu thụ: Năm 2018, dự báo tăng trưởng 3,4% nhưng thực tế đạt 2,9%, mức giảm này do ảnh hưởng từ cuộc chiến thương mại với Mỹ tác động rất lớn đến nhu cầu tiêu thụ giấy và bìa giấy trong quý IV/2018.

Năm 2019, dự kiến tăng trưởng tiêu thụ dự báo 2,1%, do tính chất căng thẳng thương mại với Mỹ, Risi dự báo 0,5%, tuy nhiên thỏa thuận thương mại có kết quả tốt trong quý I/2019 mức tăng trưởng có thể cao hơn 0,5%, chiến tranh cao độ hơn thì khả năng mức tăng trưởng âm. Như vậy tăng trưởng về tiêu thụ giấy sản xuất thùng sóng phụ thuộc sức khỏe kinh tế Trung Quốc năm 2019.

Giấy tái chế RCP: Năm 2018, theo kế hoạch chính phủ Trung Quốc chỉ cấp phép 15,0 triệu tấn, nhưng đã lặng lẽ cấp phép 18,14 triệu tấn, dẫn tới sản xuất tăng trong quý IV/2018;

Năm 2019, kế hoạch cấp phép cả năm là 10,0 triệu tấn, nhưng tới  nay đã cấp phép 5,0 triệu tấn. Cấp phép theo kế hoạch hay nhiều hơn kế hoạch, điều gì sẽ xảy ra với thị trường giấy các tông hòm hộp (containerboard, boxboard) của Trung Quốc?

Thị trường giấy tissue thế giới: Dự báo tiêu thụ giấy tissue toàn thế giới năm 2019 tăng trưởng 4,0%, tuy nhiên năng lực sản xuất tăng rất mạnh tới 5,6% , tăng sản xuất ở các khu vực có sản lượng tiêu thụ lớn như Châu Á, Bắc Mỹ, Châu Âu. Như vậy là nguồn cung giấy tissue năm 2019 vượt về nhu cầu, đặc biệt là khu vực châu Á.

Tăng trưởng tiêu thụ và sản xuất giấy tissue thị trường thế giới năm 2019

Khu vực % tăng trưởng tiêu thụ % tăng trưởng sản xuất
Châu Á 5,8% 12,3%
Bắc Mỹ 1,5% 3,0%
Mỹ Latin 5,2% 3,6%
Tây Âu 2,0% 2,9%
Đông Âu 6,0% 7,8%
Khu vực khác 3,9% 3,6%
Tổng thế giới 4,0% 5,6%

Nguồn: RISI, Global Tissue Conference 2018

Dự báo bột giấy thế giới: Bột giấy hóa bao gồm bột giấy gỗ cứng và bột giấy gỗ mềm, dự báo tăng trưởng 2,1% trong năm 2019

Dự báo bột giấy tái chế thế giới: Dự báo tăng trưởng 3,0 – 3,5% trong năm 2019.

Thị trường Việt Nam năm 2019: Triển vọng xu hướng tích cực

Giấy in, giấy viết: tiêu thụ thế giới được dự báo tăng trưởng trong năm 2019 là 1,0%, trong đó khu vực Châu Á được dự báo tăng 1,0%.

Tiêu thụ trong nước vẫn tăng trưởng khoảng 3 – 5%. Nhu cầu gia công vở và sổ xuất khẩu có cơ hội nhiều về xuất khẩu khi thực hiện các hiệp định CPTPP và EU mang lại, kết hợp với đó là cơ hội xuất khẩu vở và sổ gia tăng vào thị trường Mỹ do ảnh hưởng của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung. Gia công sản xuất vở sổ nội địa có dư địa để gia tăng do năm học 2018 – 2019, số lượng học sinh và sinh viên tăng hơn năm học trước, quy mô các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh và vốn FDI giải ngân làm tăng nhu cầu về giấy photocopy.

Giấy làm bao bì: Tiêu thụ của thế giới năm 2019, được dự báo tăng trưởng 3,1%, trong đó khu vực Châu Á được dự báo tăng 4,3%, kết hợp với đó là xu hướng đang chuyển đổi mạnh hơn bao bì không có khả năng tái chế hoặc tỷ lệ tái chế thấp sang bao bì giấy.

Tiêu thụ trong nước được dự báo tăng trưởng trên 12%, sản xuất gia công giấy trong nước để xuất khẩu sẽ tăng mạnh do các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất và một số năng lực mới đưa vào sản xuất có công suất lớn như Oji (Hà Nam) 50 triệu m2/năm giấy cứng trong quý II/2019, xuất khẩu các mặt hàng sử dụng bao bì nhiều như điện thoại, điện tử, may mặc và giày da, nông lâm sản, thủy sản,… vẫn còn nhiều dư địa tăng trên 10% đặc biệt các hiệp định thương mại mới mang lại. Tiêu thụ bán buôn và lẻ nội địa dự báo tăng trên 13,0%, ngành công nghiệp chế tạo và chế biến trong nước được chú trọng và phát triển mạnh, các ngành hàng như dược phẩm, thuốc lá, đồ uống giải khát, bia rượu, sữa, mỹ phẩm, bánh kẹo, xây dựng, giấy và bìa giấy đều được dự báo tăng trưởng ở hai con số.

Giấy tissue: Tiêu thụ thế giới trong năm 2019 dự báo tăng 4,0%, trong đó khu vực Châu Á dự báo tăng 5,8%.

Tiêu thụ trong nước năm 2019 được dự báo tăng trên 6,0%, chủ yếu do tăng trưởng về dân số, dân số đô thị hóa, thu nhập theo đầu người tăng; tăng trưởng về ngành dịch vụ ăn uống, khách sạn…

Xu hướng tiêu cực

Giấy in và viết: Sản xuất giấy in, giấy viết từ thị trường Trung Quốc tăng mạnh trong năm 2019 bởi công ty Chengming, UPM Asia, kết hợp với đó là sự sụt giảm nhu cầu tiêu thụ do ảnh hưởng từ cuộc chiến thương mại với Mỹ. Lượng giấy từ hai công ty này sẽ gia tăng mạnh vào thị trường Việt Nam  gây áp lực về giá sản phẩm với doanh nghiệp nội địa.

Các quốc gia khác như Indonesia, Thái Lan, Nhật Bản không xuất khẩu được vào thị trường Trung Quốc, sẽ quay đầu sang quốc gia khác trong đó có Việt Nam. Dẫn đến thị trường Việt Nam cạnh tranh cao.

Giấy làm bao bì: Tăng trưởng tiêu thụ năm 2019 thế giới là 3,1% trong khi đó tăng trưởng sản xuất là 5,2%, sản xuất vượt 2,1% so với cầu.

Triển vọng xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc không như mong đợi, nhu cầu thị trường Trung Quốc sụt giảm mạnh do tác động chiến tranh thương mại với Mỹ. Xuất khẩu giấy không theo kỳ vọng, phụ thuộc vào sức khỏe kinh tế Trung Quốc, trong khi sản xuất trong nước dự báo tăng trưởng khoảng 30% sẽ gây nên sự cạnh tranh khốc liệt ở thị trường nội địa.

Nguyên liệu giấy tái chế, sản xuất không ổn định, do vướng mắc thủ tục và thời gian thông quan, ký quỹ,… ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Sức cạnh tranh xuất khẩu yếu, dễ mất bạn hàng truyền thống do thiếu ổn định. Trong khi đó năm 2019 dự báo nhu cầu tiêu dùng giấy tái chế tăng thêm khoảng 1,0 triệu tấn cho nhu cầu sản xuất trong nước.

Giấy tissue: Tăng trưởng tiêu thụ năm 2019 dự báo tăng 4,0%, trong khi đó, tăng trưởng sản xuất tăng 5,6%, như vậy sản xuất đang dư thừa 1,6%. Khu vực châu Á tiêu thụ tăng trưởng 5,8% nhưng sản xuất tăng trưởng mạnh 12,3%, như vậy sản xuất dư đến 6,5%. Cạnh tranh thị trường xuất khẩu rất khốc liệt, xuất khẩu không triển vọng dẫn đến cạnh tranh thị trường nội địa cao, bao gồm cả giấy sản xuất nội địa và giấy nhập khẩu từ Indonesia và Trung Quốc.

Theo tình hình thị trường như trên cũng như dự báo cho năm 2019, ngành giấy Việt Nam gặp rất nhiều thách thức về cạnh tranh thị trường xuất khẩu và thị trường nội địa, nguyên liệu giấy thu hồi vẫn chủ yếu phụ thuộc nguồn nhập khẩu. Vì vậy, các doanh nghiệp cần có kế hoạch cụ thể để đảm bảo hiệu quả sản xuất và kinh doanh của mình.

Nguồn: vppa.vn
Tags: ,

Chia Sẻ :